A. Giới thiệu
- Cấu trúc cơ bản của một file .tex :123456
\documentclass[a4paper] {article}\usepackage[utf8] {inputenc}\usepackage{...}\begin{document}.........\end{document}trong đó:
+ article là lớp tài liệu, có các lớp nhưarticle,book,reporthaybeamer. Chi tiết các lớp sẽ giới thiệu sau.
+ Thuộc tính đặt trong cặp dấu ngoặc vuông của documentclass là các tuỳ chọn như sau:
++ Cỡ chữ chung cho toàn văn bản: chỉ có 3 cỡ là10pt(mặc định),11ptvà12pt. Còn thay đổi cỡ chữ ở cụ thể những vị trí khác nhau thì có lệnh riêng rồi. Cái này là cỡ chữ tổng thể.
++ Khổ giấy: có các khổ giấy nhưletterpaper(mặc định), legalpaper, executivepaper,a4paper,a5paper,b5paper.
++ Bản nháp draft hay bản in ấn chính thức final (mặc định). Cái này ko cần quan tâm cũng dc.
++ Chọn in một mặt oneside (mặc định) hay hai mặt twoside. Cái này ko cần quan tâm lắm vì file pdf xuất ra vẫn hai mặt như thường.
++ Bắt đầu một chương mới luôn ở trang bên phải openright, hoặc ở bên bất kỳ openany. Cái này cũng ko cần quan tâm, mặc định openright cho lớp book, openany cho lớp report, còn lớp article ko có tuỳ chọn này.
++ Tài liệu được chia làm hai cộttwocolumnhay một cộtonecolumn(mặc định).
++landscapeđể thay đổi cách trình bày từ trang dọc thành trang ngang.
++ Nếu văn bản có công thức toán học thì công thức hiển thị ở chính giữa như mặc định hay ở bên trái với fleqn. (mình thấy để ở giữa cho thuận mắt)
++ Đánh số công thức ở bên phải như mặc định hay ở bên trái với leqno.
++ Xác định việc tạo một trang trắng ngay sau tựa đề với titlepage hoặc chọn không với notitlepage (việc này có nghĩa là tạo tờ bìa của tài liệu, hay cứ viết liền ngay mặt sau của trang chứa tựa đề). Lớp book và report mặc định là titlepage, còn lớp article thì ngược lại.
Nhiều tuỳ chọn khai báo cùng lúc thì ngăn cách nhau bởi dấu phẩy, ví dụ: \documentclass[12pt,a4paper,twocolumn]{report}
+usepackageđể gọi các gói sử dụng vào tài liệu. Như gói inputenc là gói ngôn ngữ cơ bản để đọc được kí tự trong file tex. Để in ra được tiếng Việt, bạn phải dùng gói vietnam với tuỳ chọn utf8 (dù bạn gõ tiếng Việt trong file tex nhưng phải sử dụng gói ngôn ngữ để file pdf xuất ra hiển thị được tiếng Việt). (Có một lưu ý cho những ai dùng phần mềm biên dịch Texlive, đó là ngôn ngữ tiếng Việt nằm trong gói texlive-lang-other, hãy chắc chắn bạn đã cài gói này).
+ Tất cả văn bản và lệnh trong cặp \begin{document} và \end{document} sẽ được in ra file pdf. - Một hay nhiều dấu cách hay một enter (xuống dòng) khi in ra cũng chỉ tương đương với một dấu cách. Hai hay nhiều lần enter tương đương với một xuống dòng.
- Ghi chú trong file tex nhưng ko hiển thị ra file thành phẩm, hãy dùng dấu
%. Nội dung theo sau dấu % sẽ trở thành ghi chú và nó chỉ có hiệu lực trên 1 dòng. - Lệnh ngắt trang
\newpage. - Ngắt dòng bằng
\\hoặc\newline(khác với xuống dòng, ngắt dòng vẫn thuộc đoạn văn ấy và ko bị thụt đầu dòng). - Từ nào dài quá, latex sẽ ngắt dòng tự động hoặc cho nó xuống dòng nhưng sẽ để lại khoảng trống vắng thiếu mỹ quan ở dòng trên, vì thế đặt dấu
\-vào giữa từ để latex ưu tiên ngắt ở đó. Ví dụ electro\-magnetic . Còn nếu muốn hiển thị đầy đủ bất chấp mỹ quan thì dùng\mbox{blabla}hoặc \fbox{blabla} (fbox có thêm đóng khung viền). - Dấu ba chấm thực sự phải viết là
\ldots - Có những ví dụ về khoảng cách trong một từ: VIETNAM\@. , Mr.~John .
- Tạo mục lục
\tableofcontents - Chia chương mục: theo thứ tự như sau
\chapter{}\section{}\subsection{}\paragraph{}\subparagraph{}
Lưu ý \chapter chỉ dùng được cho lớp book và report.
Tên tiêu đề chương mục nếu dài quá, hiển thị trong mục lục trông sẽ rất lôm côm, bạn có thể dùng tên rút gọn bằng cách thêm tựa đề thay thế vào lệnh, ví dụ \chapter[tựa_đề_thay_thế]{tựa_đề_đầy_đủ} - Viết tiêu đề cho tài liệu với
\title{}, tác giả\author{}, ngày xuất bản\date{}. Hiển thị nội dung của 3 lệnh trên bằng lệnh\maketitle - Chú thích ở cuối trang bằng
\footnote{}ngay sau từ cần chú thích hoặc sau dấu câu của câu hoặc đoạn cần chú thích. - Nhấn mạnh từ bằng cách gạch chân
\underline{}hay in nghiêng\emph{} - Khái niệm môi trường: khác với lệnh, lệnh tác động tới nội dung đặt trong lệnh, hoặc đóng vai trò như một công tắc thay đổi thuộc tính cho toàn bộ văn bản kể từ sau nó. Môi trường là bạn bao bọc lấy một vùng văn bản và đặt thuộc tính chung cho cả đoạn ấy. Môi trường được khai báo như sau:123
\begin{môi_trường}... blabla...\end{môi_trường}Nội dung đặt trong cặp begin-end sẽ được định dạng theo tên môi_trường đó. Môi trường có thể lồng vào nhau được.
- Môi trường liệt kê như
itemize,enumerate,description. Để liệt kê các đối tượng, dùng lệnh\itemở bên trong môi trường. - Canh lề trái, phải, hoặc giữa bằng môi trường
flushleft,flushright,center.


