BeeLab: Hành trình cá nhân
Showing posts with label Hành trình cá nhân. Show all posts
Showing posts with label Hành trình cá nhân. Show all posts

Thursday, November 4, 2021

Một Số Chiến Lược Tìm Lab, Xin Học Bổng PhD and Xin Postdoc

9:57:00 PM
Một Số Chiến Lược Tìm Lab, Xin Học Bổng PhD and Xin Postdoc
Trong cuộc sống ở bất kì ngành nghề lĩnh vực nào, ai cũng mong muốn có được 1 công việc tốt, phù hợp với mình. Thì chiến lược tốt, bạn phải dựa trên những nguyên tắc căn bản tốt. Tuỳ vào hoàn cảnh, vị trí của các bạn mà sử dụng một hay nhiều nguyên tắc để hình thành nên các chiến lược khác nhau. Cốt lõi của những chiến lược tốt để tìm lab, xin học bổng, xin postdoc, theo tôi phải dựa trên những nguyên tắc sau:

Nguyên tắc 0: Đánh giá được bản thân

Việc đánh giá được mức độ cạnh tranh của bản thân trước mọi cuộc ganh đua là một điều quan trọng bậc nhất. Muốn đánh giá tốt bản thân mình, các bạn phải biết so sánh mình với người khác một cách hợp lý. Điều này tưởng chừng đơn giản, nhưng khá khó, vì dễ bị chủ quan. Một cách khách quan là bạn nên hỏi han một số anh chị/bạn bè có kinh nghiệm, xin ý kiến về mức độ cạnh tranh của mình.
Các bạn nên nhớ khi đi xin vào bất kỳ một lab nào, điều quan trọng nữa [từ việc đánh giá tốt bản thân] là bạn phải biết cách “show off your skills”. Các GS mong muốn tìm người có kĩ năng [như viết code, scripts dùng thiết bị, lắp ráp, chế tạo dụng cụ], có khả năng tự nghiên cứu và trình bày tốt, có khả năng giao tiếp, trao đổi với đồng nghiệp và bạn bè. Cách chứng minh tốt nhất cho điều này là bạn phải có kinh nghiệm nghiên cứu (công bố trên tạp chí, hội nghị quốc tế), và thư giới thiệu từ chính người hướng dẫn của bạn. Điểm số như GRE, Toefl, hay gì đó là quan trọng đối với trường nhận bạn; còn đối với GS, họ lưu ý nhiều tới những thông tin mà cho thấy rõ ràng kĩ năng và khả năng nghiên cứu tốt.

Nguyên Tắc 1: Nghiên cứu kỹ lưỡng các lab trước khi bày tỏ ý muốn gia nhập

Nếu các bạn nghĩ càng gửi vào nhiều lab thì xác suất thành công của bạn càng cao, thì theo tôi là khá sai lầm. Điều này xuất phát từ nhiều yếu tố như thiếu kiên nhẫn, nóng lòng muốn xin được một vị trí, do đó gần như ai cũng mắc lỗi này lúc đầu. Lỗi này nhiều khi nghiêm trọng tới mức bạn được nhận vào một lab rất tệ, rất khó xin việc sau này. Vì thế việc dành thời gian tìm hiểu kĩ lưỡng về các trường, các khoa, các GS giúp bạn rất nhiều thứ:
(1) Rút gọn số lượng các trường mà bạn nghĩ là cạnh tranh được. Như tôi, tôi thường chọn 4-5 trường hay lab lúc đầu. Nếu thất bại, thì thử các lab tiếp theo, chứ không gửi đi một loạt 20 hay 50, thậm chí là 100 lab, hay công ty. Với số lượng trên 20 hồ sơ bạn gửi đi, thì chắc chắn chúng sẽ đem lại cho bạn cảm giác thất bại rất lớn. Thay vào đó, gửi từng số nhỏ (4-5) một hay thậm chí là từng lab/trường/công ty trong từng tuần. Thường các lab sẽ trả lời sớm cho bạn biết, các trường hay công ty thì lâu hơn.
(2) Cho bạn thêm thời gian để hoàn thiện các yếu tố như Cover Letter, CV, Research Statements, v.v, sau một vài lần bị từ chối. Nếu làm liên tục trong vài tháng tới con số 20 hồ sơ mà đều bị từ chối thì bạn nên dừng lại. Vì có điều gì đó không ổn trong hồ sơ của bạn.
(3) Networking. Khi các bạn tìm hiểu kĩ, bạn sẽ tìm được thêm bạn bè, hay tìm được người để hỏi han, giúp bạn đánh giá tốt hơn về hồ sơ.
(4) Không nên gửi hồ sơ cho nó có vì điều này chỉ mang lại cho bạn cảm giác thất bại nhiều hơn, buồn chán nhiều hơn mà thôi.

Nguyên Tắc 2: Tránh Ùa Theo Đám Đông

Nếu các bạn hiểu Nguyên Tắc 1, thì các bạn cũng sẽ thấy rõ tại sao bạn không nên Ùa theo đám đông gửi hồ sơ cho một vài lab mới có tuyển dụng. Nếu bạn nghiên cứu kĩ lưỡng về lab đó, biết mình phù hợp thì gửi, còn nếu có cảm giác không hợp lắm, thì STOP. Việc “Ùa Theo Đám Đông” cũng chỉ đem lại cho bạn thêm cảm giác thất bại thôi. Phần lớn các GS làm như sau: chỉ cần 30 giây là biết bạn có thích hợp với lab không, 20 phút để biết khả năng của các bạn tới đâu, rồi sẽ rút gọn tới 3-5 candidates; dành vài ngày suy nghĩ, rồi mới quyết định gửi email tới 1-3 người tốt nhất. Nên nếu các bạn gửi hồ sơ mà không chuẩn bị kĩ lưỡng, mà Ùa theo đám đông thì xác suất bị OUT rất cao.

Nguyên Tắc 3: Viết CV thích hợp và Cover Letter thật tốt

Nếu các bạn gửi hồ sơ sang Bắc Mỹ thì CV phải theo kiểu Bắc Mỹ. Trong CV làm rõ kinh nghiệm, skills, công bố trên tạp chí nào, hay đang trong tình trạng review hay đang được viết.
Cover Letter thì phải viết rõ ràng cho từng lab, đưa ngay ra thành tựu của mình, kĩ năng của mình, cho người đọc (GS) thấy là mình phù hợp với lab. Cover Letter không được viết quá dài, nên khoảng 300-500 chữ. Nếu bạn tìm hiểu kĩ lượng về lab đó, viết cũng sẽ dễ hơn, vì bạn phải chứng minh với lượng số chữ đó, bạn là người phù hợp với lab đó, để xin phỏng vấn (qua Skype, hay được mời trực tiếp).

Nguyên Tắc 4: Be Very Nice (Dễ mến và lịch sự)

Trong bất kỳ tình huống nào, gặp mặt trực tiếp hay trao đổi qua email, bạn cũng phải biết dùng ngôn ngữ một cách Nicely. Bạn viết cho sinh viên, postdoc trong lab đó thì bạn cũng phải nice. Xin ý kiến của các anh chị có kinh nghiệm cũng phải nice. Bạn cũng nên thử để cho thấy bạn nghiêm túc khi tiếp xúc hay xin ý kiến.

Nguyên Tắc 5: Chủ Động Kết Nối

Nếu bạn tham gia hội nghị, hội thảo, thì phải chủ động kết nối, viết email thật nice, thật lịch sự, để xin gặp, xin phỏng vấn trực tiếp. Bạn nên biết nhiều anh chị (rất giỏi) mà cũng phải làm như vậy, và nhiều người xin được vào làm Postdoc hay PhD ở những lab rất tốt nhờ gặp vài lần ở hội thảo hội nghị đó.

Nguyên Tắc 6: Chuẩn bị và chuẩn bị

Nếu bạn thiếu bất kỳ kĩ năng nào như viết CV, Cover Letter, Research Statement, hay kĩ năng nghiên cứu, thì bạn phải dành đủ thời gian chuẩn bị tốt những gì bạn viết trước khi gửi hồ sơ đi. Nếu thời gian chuẩn bị là 2 năm, thì dành hẳn hai năm trước khi tin là mình cạnh tranh được. Vì một khi bạn chuẩn bị tốt, dù mất hai năm, nhưng bạn chỉ cần thành công một lần là đủ, với học bổng $20k-$30k/năm cho PhD. Hoặc là PhD thì nếu cảm thấy chưa đủ skills, thì ở lại thêm 1-2 năm nữa học thêm cái này, cái kia, rồi mới tốt nghiệp. Vì nếu bạn nhanh nhẩu tốt nghiệp và không có đủ skill, thì bạn sẽ khó xin được công việc kế tiếp ngay. Nên lúc nào cũng phải chuẩn bị sớm cho đầu ra, dành đủ thời gian chứ đừng đợi tới gần tốt nghiệp, hay hết hạn mới bắt đầu.
Luck can be only seized by being well prepared

Nguyên Tắc 7: Chấp Nhận và Hiểu Rõ Thất Bại

Đối với tôi đây là nguyên tắc quan trọng bậc nhất trong cuộc sống nói chung. Con đường mà chúng ta đi, đôi khi sẽ bị vấp ngã hay đầy rẫy sai lầm. Gần như không ai không thất bại khi tìm kiếm hướng đi, một giải pháp, một cuộc sống mới, một nghề nghiệp mới. Chính những người không thất bại lại là những người khó học được bài học của thất bại là sự khiêm tốn, sự ham học hỏi và sự kiên trì. Chấp nhận và hiểu rõ thất bại mới giúp chúng ta thành công hơn, và gặt hái được những thành quả cuối cùng, quan trọng nhất. Thất bại mới làm ta hiểu rõ tầm quan trọng của 7 Nguyên Tắc trên.
Steve Jobs nói “stay hungry, stay foolish” có nghĩa chúng ta phải ham học hỏi (vì đói kiến thức chứ không phải vì no nê), phải chấp nhận sai lầm (vì không biết trước điều gì sẽ làm chúng ta trở nên ngốc nghếch lúc ban đầu) để trở nên khôn ngoan hơn nhờ học được bài học của sự thất bại.
P/S. Anh chị hay các bạn nào có bổ sung hãy comment phía dưới để các bạn trẻ có thêm ý kiến. Thanks.

Saturday, October 10, 2020

[PhD life] #Done is better than perfect - Hoàn thành tốt hơn hoàn hảo

4:05:00 PM
[PhD life] #Done is better than perfect - Hoàn thành tốt hơn hoàn hảo

Điều quan trọng nhất của quá trình làm nghiên cứu mà đặt biệt là "Ph.D" sẽ dạy cho chúng ta là làm thế nào và khi nào nên dừng lại.

Chủ nghĩa hoàn hảo chúng ta sẽ rất dễ gặp phải trong môi trường học thuật nhất là quá trình làm "Ph.D". Trước hết tôi muốn giải thích thêm tại sao tôi lại gọi là "làm Ph.D", theo cách hiểu ở đây "làm" là quá trình học tập, trao dồi kiến thức, tìm hiểu, cách thức nghiên cứu, cách viết lách, cách publish 1 công trình nghiên cứu của mình,... còn Ph.D hay còn gọi là tiến sĩ thì hãy xem đó là 1 cái ngưỡng vì nó được xem "học vị" cao nhất trong giới khoa học.
Quay lại với tiêu đề của note này, điều này có rất nhiều người sẽ nhận ra được sau khi đã hoàn thành được Ph.D và thêm 1 khoảng thời gian thư giản đầu ốc để suy nghĩa về những gì mình làm. Cụ thể là bài chia sẽ dưới đây sẽ là 1 tâm tư như vậy. Đối với tôi, tôi may mắn đã nhận ra sớm hơn thế và mình sẽ lên 1 kế hoạch cụ thể hơn, tự tin hơn. Tôi không dám chắc nó sẽ thành công hơn vì hiện tại tôi vẫn đang chuẩn bị hoàn thành thesis nên mọi kế hoạch đều là của tương lai nên tôi không thể biết được nhưng có 1 điều tôi dám chắc rằng là mình tự tin hơn, ít có cảm giác chơi vơi hơn trước. Cũng nói thêm rằng, ý của bài viết mà tôi xin mạng phép dịch sau đây cũng giống hoàn toàn với ý cũng mình đã chia sẽ nhiều cho những anh em, bạn bè bắt đầu nghiên cứu để giảm bớt cảm giác áp lực mà mọi người đang gặp phải, điều này cũng đồng cảm với nhiều anh chị nghiên cứu đi trước. Câu chuyện được chia sẽ như sau [1]:

Tôi đã nộp luận án Tiến sĩ vào tháng 12, bốn ngày trước Giáng sinh. Nó không hoàn hảo - theo nhiều cách, nó thậm chí còn không tốt. Tôi đã hy vọng trở thành một lập trình viên thành thạo và một nhà khoa học thành danh với nhiều bài báo có tác động lớn khi kết thúc chương trình học sau đại học. Hoặc ít ra, tôi hy vọng sẽ tìm thấy bằng chứng để hỗ trợ giả thuyết của mình. Nhưng thực tế, luận án của tôi hầu như không được công bố, code của tôi chỉ là sơ bộ, và kết quả cũng không thuyết phục. Trong suy nghĩ của tôi, điều đó là một thất bại. Cuối cùng, tôi đã nộp luận án của mình vì tôi muốn tận hưởng một Giáng sinh trọn vẹn sau nhiều năm căng thẳng.

Kể từ đó, tôi đã học được một hoặc hai điều về cuộc sống sau Tiến sĩ. Hóa ra, không có gì là hoàn hảo. Bạn rất dễ rơi vào bẫy khi nghĩ rằng sự hoàn hảo chỉ ở đâu đây, gần lắm rồi chỉ cần tiếp tục cố gắng trong vài tuần hoặc vài tháng, hoặc vài nữa, bạn sẽ giải quyết được mọi thứ. Tất cả chúng ta đều muốn thay đổi thế giới - nhưng trên thực tế, điều đó sẽ không xảy ra khi học sau đại học. Những khám phá lớn được đặc trưng bởi nhiều bước đệm nhỏ dẫn đến thành công và thất bại. Biết khi nào nên đóng từng chương và tiếp tục là một phần quan trọng của quá trình.

Hoàn thành chương trình Tiến sĩ trong khoảng thời gian mong muốn cho thấy chúng có thể đặt ra các mục tiêu thực tế và đáp ứng thời hạn. Điều này mở ra cho chúng ta nhiều lựa chọn sau Tiến sĩ. Các nhà lãnh đạo trong ngành sẽ không quan tâm đến việc chúng ta có xuất bản một bài báo hay không mà họ quan tâm đến khả năng hành động và tạo ra kết quả kịp thời của chúng ta. Các phòng thí nghiệm có môi trường học thuật thường khoan dung hơn, nhưng họ vẫn sẽ cảnh báo khi nhận thấy những dấu hiệu của một người cầu toàn. Môi trường học thuật yêu cầu các công bố thường xuyên, có nghĩa là đến một lúc nào đó bạn phải dừng cái này  hay kể cả phải từ bỏ để hoàn thành việc khác. Tìm kiếm sự hoàn hảo sẽ chỉ dẫn đến sự chậm trễ vô tận và cảm giác hoang mang liên tục, hoặc tệ hơn là hoàn toàn kiệt sức vì tự đặt quá nhiều áp lực cho bản thân.

Điều quan trọng cần nhớ là khoa học là một lĩnh vực thay đổi nhanh chóng. Mỗi ngày, chúng ta thu được kiến ​​thức dựa trên hoặc mâu thuẫn với những ý tưởng trước đó. Mục đích của luận án là chứng minh rằng bạn có thể tiến hành nghiên cứu độc lập và suy nghĩ như một nhà khoa học. Bạn cần đảm bảo rằng bạn trình bày một bản tóm tắt chính xác về kiến ​​thức hiện tại và những ý tưởng mới. Nhưng bạn không thể đảm bảo rằng lý thuyết của bạn sẽ không bị bác bỏ trong tương lai. Bằng tiến sĩ của bạn vẫn có giá trị và rất xứng đáng, bất kể nó có đúng trong hàng trăm năm tới hay không.

Hơn nữa, luôn có thời gian để thay đổi sau đó. Kết thúc quá trình làm Ph.D của bạn chỉ là: đạt được 1 cái ngưỡng nhưng tôi đã nói ở trên. Nó không phải là kết thúc của cuộc hành trình khoa học của chúng ta. 

Phải mất gần hai năm để các chương luận văn chưa xuất bản của tôi trở thành bản thảo được xuất bản. Lẽ ra, tôi có thể tiếp tục tiến sĩ của mình: ám ảnh về chi tiết, chờ đợi phản hồi của người đánh giá, lăn tăn về lỗi chính tả. Luận án của tôi trông sẽ tốt hơn rất nhiều (tôi đã không làm vậy). Thay vào đó, tôi đã có thể sử dụng thời gian đó để bắt đầu một postdoc trong một lĩnh vực mới, tích lũy kinh nghiệm và phát triển các kỹ năng mới. Luôn có thời gian để học hỏi và cải thiện - bạn không cần phải làm tất cả trong quá trình học của mình.

Vì vậy, nếu bạn đang ở giai đoạn cuối, quá căng thẳng và quá mệt mỏi, thì hãy cố gắng hoàn thành một việc gì đó. Bằng tiến sĩ của chúng ta sẽ chỉ hoàn thành khi chúng ta đưa ra quyết định dừng lại một cách tỉnh táo. Nó có thể không hoàn hảo, nhưng hãy làm nó hoàn chỉnh; nhưng không có gì tốt hơn một luận án đã hoàn thành.


Ulsan, 2020.10.10

[1] http://blogs.nature.com/naturejobs/2018/07/09/done-is-better-than-perfect-overcoming-phd-perfectionism/

Sunday, June 7, 2020

What is Ph.D. - Tiến sĩ là gì?

3:03:00 PM
What is Ph.D. - Tiến sĩ là gì?

 Có lẽ nhiều bạn đọc sẽ thấy ngạc nhiên khi đọc tựa đề của entry này, vì nó hơi … ngô nghê.  Nhưng tôi phải mượn tựa đề câu hỏi đó để giải tỏa một số ngộ nhận về văn bằng tiến sĩ đang được một tờ báo mạng vô tình tiếp tay phổ biến và những lem nhem chung quanh việc hiểu ý nghĩa cuả văn bằng tiến sĩ  mà giới báo chí đang làm ồn ào trong tuần qua.

Nhưng trước khi giải thích tiến sĩ là gì, có lẽ cần phải minh định những gì không nằm trong phạm vi về ý nghĩa của văn bằng tiến sĩ.

Thứ nhất, tiến sĩ không phải là một nghề.  Trước hết nghề là một việc làm qua sự phân công của xã hội.  Trong xã hội có người làm nghề thợ mộc, nghề nấu ăn, nghề thầy thuốc, v.v… Tùy theo bối cảnh và cấp bậc, tiếng Anh gọi nghề là occupation, là vocation, hay có khi là profession.  Do đó, khi người ta hỏi “nghề của chị là gì”, thì câu trả lời có thể là “tôi làm nghề dạy học”, hay “tôi làm nghề buôn bán lẻ”.  Tiến sĩ là một degree, tức là một bằng cấp hay học vị.  Thật là ngô nghê nếu có người nói “tôi hành nghề tiến sĩ”!

Tiến sĩ không phải là một tước vị.  Tước vị là những danh vị do Nhà nước hay một tổ chức phong tặng, và cá nhân được phong tặng không phải trải qua một quá trình học hành.  Chẳng hạn như “Sir” là một tước hiệu do Nữ hoàng Anh tặng cho những người có công trong hoạt động xã hội và cộng đồng, hoặc như “Nhà giáo nhân dân” là tước hiệu do Nhà nước theo khối xã hội chủ nghĩa (như Việt Nam) phong tặng cho những nhà giáo có công lớn với sự nghiệp giáo dục (trên lí thuyết).  Còn văn bằng tiến sĩ chỉ được cấp cho những người nào đã qua một quá trình học hành và nghiên cứu khoa học, và đã đáp ứng các tiêu chuẩn do trường đại học đề ra.  Do đó, tiến sĩ không phải là một tước vị hay phẩm hàm.

Tiến sĩ không phải là “đỉnh cao trí tuệ”.  Người theo học tiến sĩ thường nghiên cứu về một đề tài hẹp, có khi rất hẹp, chứ không theo đuổi một đề tài bao quát như ở bậc cử nhân hay thạc sĩ.  Có khi người ta bỏ ra cả 4-5 năm chỉ để nghiên cứu một phân tử!  Mà, ngay cả sau khi xong luận án tiến sĩ, ứng viên cũng chưa thể hiểu hết về đề tài hẹp đó.  Trong khoa học không có cái gì là chắc chắn và xác định; tất cả những gì chúng ta hiểu biết đều mang tính bất định và có điều kiện.  Do đó, không có ai — kể cả người có văn bằng tiến sĩ — ngớ ngẩn tuyên bố rằng mình là đỉnh cao trí tuệ, nếu không muốn tự biến mình thành đề tài chuyện tiếu lâm!

Học tiến sĩ không dễ và thoải mái.  Học tiến sĩ nghiêm chỉnh không bao giờ dễ và dứt khoát càng không thoải mái.  Học tiến sĩ không phải như bậc cử nhân hay thạc sĩ (tức hoàn tất các môn học qua thi cử), mà là làm nghiên cứu khoa học.  Nghiên cứu khoa học là cả một qui trình có hệ thống, mà chỉ cần sai một khâu trong qui trình đó thì xem như là thất bại.  Do đó, nghiên cứu khoa học không chỉ đòi hỏi ứng viên phải “cái đầu” tốt (tức ý tưởng tốt), mà còn đòi hỏi ứng viên phải nắm vững phương pháp, và nhất là đòi hỏi thời gian để hoàn tất.  Nghiên cứu sinh phải dậy sớm thức khuya, hay phải làm luôn ngày cuối tuần là chuyện bình thường.  Mỗi tuần thì phải dự bao nhiêu seminar, họp lab, cứ mỗi 6 tháng thì có kiểm tra, báo cáo tiền độ học vấn, và thêm vào đó là áp lực bài báo khoa học lúc nào cũng đè nặng lên người.  Nếu gặp giáo sư hướng dẫn khó tính, lúc nào cũng đòi hỏi phải có “outcome” (thành quả) thì càng mệt hơn.  Nói chung tôi nhớ thời mình theo học, lúc nào cũng nơm nớp trông chờ kết quả nghiên cứu, chứ không thoải mái chút nào cả.  Nhất là đến lúc viết luận án thì áp lực càng kinh khủng hơn nữa.  Tôi chưa nghe ai nói học tiến sĩ thoải mái cả.

Cố nhiên, ở đây tôi chỉ bàn đến những chương trình đào tạo tiến sĩ nghiêm túc và có chất lượng.  Cần nói thêm rằng cũng có những trung tâm và trường đại học nhận nghiên cứu sinh khá tùy tiện, chẳng cần qua phỏng vấn, chẳng cần tiêu chuẩn nghiên cứu, vì các giáo sư ở đó có nhu cầu một vài người giúp việc … rẻ tiền.  Đối với những trung tâm này, họ xem nghiên cứu sinh tiến sĩ chỉ là một công nhân trí thức trong dây chuyền sản xuất để họ đạt được mục tiêu của họ (họ chẳng cần quan tâm đến tương lai của nghiên cứu sinh, và nghiên cứu sinh cứ tưởng rằng làm tiến sĩ dễ quá!) Tôi không bàn đến những chương trình học tiến sĩ từ các trường “làng nhàng” như thế, mà nghiên cứu sinh không cần công bố bài báo khoa học vẫn có thể tốt nghiệp.  Không phải chương trình đào tạo tiến sĩ nào cũng có chất lượng như nhau.  Những chương trình đào tạo từ các lab có uy tín phải có đẳng cấp khác với những chương trình xoàng xỉnh.  Thử tưởng tượng, một nghiên cứu sinh sau khi hoàn tất chương trình tiến sĩ mà không có đến một bài báo trong lí lịch thì làm sao có thể cạnh tranh với các nghiên cứu sinh khác.

Tiến sĩ không phải là những vị “nghè”.  Ở nước ta, những người có bằng tiến sĩ thường được xem như là những ông nghè hiện đại.  Do đó, có người còn đề nghị nên có văn miếu cho các ông bà nghè hiện đại!  Nhưng theo tôi, văn bằng tiến sĩ thời nay rất khác với tiến sĩ thời xưa, bởi vì khác từ cách học và qui trình học.  Ngày xưa, tiến sĩ (hay thái học sinh) là những người đã qua 3 kì thi hương, thi hội, và thi đình, tức là những kì thi mang tính giai tầng địa phương.  Còn chương trình tiến sĩ ngày nay là một qui trình đào tạo liên tục và khá lâu năm, chứ không phải thi theo cấp địa phương.  Tiến sĩ ngày xưa chỉ làm một bài thơ hay bài phú, và được vua quan chấm “ok”; còn ngày nay, để có bằng tiến sĩ ứng viên phải hoàn tất nhiều nghiên cứu và tổng kết trong một luận án khá dài.  Nói tóm lại, tiến sĩ không phải và không nên hiểu như là những vị nghè ngày xưa.

Danh xưng Tiến sĩ có lẽ được xuất phát từ chữ Hán mà tiếng Anh phiên âm là “Chin-shih” (và tiếng Anh dịch là “Doctor”).  Hình như văn bằng này được cấp lần đầu tiên vào năm 1313 (dưới triều đại nhà Nguyên); vào năm này, một cuộc thi tuyển đặt dưới sự chủ tọa của vua được tổ chức, và qua kết quả của kì thi này, có 300 thí sinh được cấp danh hiệu Chin-shih; trong số này, có 75 người gốc Mông Cổ, 75 người quê quán ở miền Nam Trung Quốc, 75 người quê quán ở miền Bắc Trung Quốc, và 75 người có quốc tịch ngoại quốc.

Danh xưng tiến sĩ không có nghĩa là sẽ tự động đem lại thanh thế hay uy danh cho cá nhân.  Hầu hết các thí sinh đã đạt được văn bằng tiến sĩ đều cảm thấy tự hào về nỗ lực và kết quả của việc phấn đấu trong học hành nghiên cứu.  Tuy nhiên, thí sinh phải hiểu rằng một khi tốt nghiệp tiến sĩ, thí sinh có thể làm việc với nhiều nhà khoa học khác cũng có bằng tiến sĩ.  Học vị tiến sĩ mới chỉ là bước đầu vào nghiên cứu khoa học, nó chẳng đem lại uy danh cho người có học vị nếu người đó không có công trình nghiên cứu nào có giá trị.

Học vị tiến sĩ không tự động nâng giá trị ý kiến của thí sinh.  Nhiều người tin rằng một khi họ có văn bằng tiến sĩ trong tay, công chúng sẽ tự nhiên kính trọng ý kiến của họ.  Niềm tin này hoàn toàn sai.  Nhiều người có học vị tiến sĩ có thể am hiểu và uyên bác về một lĩnh vực chuyên môn hẹp nào đó, nhưng không phải là chuyên gia của mọi vấn đề khác.  Sự kính trọng phải được chứng minh qua hành động và bản lĩnh của người phát biểu, chứ không tự động mà có được qua danh xưng “tiến sĩ”.

Nghiên cứu sinh phải chứng tỏ mình có những kiến thức cơ bản về khoa học, và những kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực nghiên cứu mà thí sinh theo đuổi;

Nghiên cứu sinh phải am hiểu các tài liệu nghiên cứu cần thiết về lĩnh vực chuyên môn mình theo đuổi, và phải có khả năng cập nhật hóa kiến thức cũng như tất cả những phát triển mới liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu;

Nghiên cứu sinh phải chứng tỏ kĩ năng phát hiện vấn đề hay đặt câu hỏi có ý nghĩa cho nghiên cứu chuyên ngành của mình;

Nghiên cứu sinh phải làm chủ được phương pháp nghiên cứu khoa học hay phương pháp thí nghiệm cơ bản;

Nghiên cứu sinh phải chứng tỏ đã đạt được những kĩ năng về truyền đạt thông tin, kể cả trình bày kết quả nghiên cứu trong các diễn đàn khoa học quốc gia và quốc tế, khả năng viết báo cáo khoa học;

Nghiên cứu sinh phải chứng tỏ mình đã nắm vững kĩ năng thiết kế một công trình nghiên cứu và độc lập trong nghiên cứu.

(Viện Karolinska, năm 2008)

Học vị tiến sĩ không bảo đảm thí sinh sẽ có công ăn việc làm ngay.  Có khi ngược lại: sinh viên tốt nghiệp tiến sĩ có thể khó tìm việc làm hơn là sinh viên tốt nghiệp cửa nhân hay thạc sĩ, bởi vì như nói trên tiến sĩ là những nhà nghiên cứu.  Một số công ti không muốn và không thích mướn những người với văn bằng tiến sĩ cho những việc không dính dáng vào nghiên cứu.  Thêm vào đó là một khi nền kinh tế bị suy yếu, tất cả thành viên trong xã hội đều chịu chung số phận.  Thật vậy, một số công ti giảm thiểu nghiên cứu trước khi giảm thiểu sản xuất, và tình trạng này có thể là một mối nguy cơ cho những người có văn bằng tiến sĩ.

Học vị tiến sĩ không phải để gây ấn tượng trong gia đình hay bạn bè.  Người thân trong gia đình và bạn bè thí sinh có lẽ rất hồ hởi và tự hào khi thí sinh vào học chương trình tiến sĩ, bởi vì họ nghĩ thí sinh sẽ trở thành một ông nghè, một “doctor” trong tương lai.  Nhưng văn bằng tiến sĩ chỉ là giấy thông hành cho nghiên cứu, chứ không phải để lấy le với người thân, bạn bè hay với xã hội.  Không phải lúc nào cũng đòi người khác phải gọi mình là ông / bà “tiến sĩ”.

Học vị tiến sĩ không phải là cái cớ để thí sinh thử xem mình thông minh cỡ nào.  Có một vài thí sinh nghĩ rằng học tiến sĩ là một thách thức và họ muốn chơi trò thách thức xem xem tri thức của mình cỡ nào.  Rất tiếc, quan điểm này sai, bởi vì chương trình huấn luyện tiến sĩ không phải để thí sinh cân não hay để thử khả năng tri thức.  Ngoại trừ thí sinh dành trọn thì giờ và dấn thân vào học hành để đỗ đạt, thí sinh sẽ không thể nào có được văn bằng tiến sĩ chỉ vì mình “thông minh”.  Như nói trên, thí sinh phải làm việc nhiều giờ trong ngày, phải có khi thức đêm trong phòng thí nghiệm hay thư viện, phải chuẩn bị đương đầu với những thất bại, phải chuẩn bị động não để học cái mới và suy nghĩ cái mới.

Học vị tiến sĩ không phải để kiếm nhiều tiền.  Thí sinh tốt nghiệp tiến sĩ thực ra không có lương bổng cao hơn các thí sinh với bằng cử nhân hay người công nhân bình thường trong hãng xưởng.  Xin nhắc lại: học tiến sĩ là để trở thành nhà nghiên cứu, nhà khoa học, và cái quan tâm đầu tiên của nhà khoa học là sự thật, chứ không phải sự giàu có về tiền bạc.  Tất nhiên, có nhiều khi sự thật và khám phá cũng đem lại một nguồn tài chính lớn cho nhà nghiên cứu.  Nhưng nói chung, đó không phải là mục tiêu để theo học tiến sĩ.

Học vị tiến sĩ không có nghĩa là một lựa chọn tốt nhất trong đời.  Cống hiến cho xã hội có nhiều cách và cuộc đời có nhiều lựa chọn, và học vị tiến sĩ chỉ là một trong số hàng trăm lựa chọn.  Có lẽ thí sinh sẽ ngạc nhiên khi đọc câu phát biểu này, nhưng đó là một thực tế.  Thật vậy, đối với nhiều thí sinh, học vị tiến sĩ có thể là một sự nguyền rủa!  Thí sinh phải tự hỏi mình muốn làm người lãnh đạo trong những người có văn bằng thạc sĩ, hay là làm một nhà nghiên cứu tầm thường.  Thí sinh phải biết và quyết định mình muốn gì, và nghề nghiệp nào sẽ kích khích mình nhiều nhất hay đem lại hạnh phúc cho mình nhất.

Tại sao “tiến sĩ” (PhD)?

Tuy có danh chính thức là triết học (“Doctor of Philosophy” hay PhD) nhưng tiến sĩ không hẳn là người học về triết.  PhD là một học vị cho tất cả các ngành khoa học, kể cả khoa học cơ bản và nhân văn.   Điều “trớ trêu” này có một lịch sử của nó. Hệ thống bằng cấp đại học ngày nay được bắt nguồn và mô phỏng từ hệ thống văn bằng của hai trường đại học cổ kính ở Âu châu vào thế kỷ 12: Trường Đại học Paris ở Pháp (thành lập vào năm 1170) và Trường Đại học Bologna ở Ý (thành lập vào khoảng 1158).  Theo bộ luật La Mã, vào thời Trung cổ, mỗi ngành nghề có quyền thành lập một hiệp hội gọi là Collegium, và hiệp hội này bầu ra những người có danh hiệu là Magistrates (mà tôi tạm dịch là “Thầy”).  Vào thời này, người được nhận vào phụ giảng được gọi là Bachalari.  Vào cuối thế kỉ 12, Đại học Paris thay đổi học vị này thành Baccalaureaet.  Lúc bấy giờ, văn bằng Baccalauréate hay Bachelor là học vị duy nhất được cấp cho những thí sinh đã (i) thi đỗ khóa thi do các các “Thầy” đặt ra; và (ii) đã học xong một chương trình giáo khoa 4 năm về ngữ pháp, tu từ học và logic.  Sau khi xong văn bằng Bachelor, thí sinh có thể theo học tiếp chương trình MasterDoctor.  Và sau khi đã xong chương trình học Master hay Doctor (khoảng 8 năm học), một hội đồng giám khảo sẽ duyệt xét thí sinh để kết nạp vào tổ chức được gọi là Universitas of Doctors.  Sự kếp nạp này cũng là một “chứng chỉ” được hành nghề dạy đại học.  Lúc bấy giờ, những danh xưng như Master, Doctor vàProfessor có cùng nghĩa và tương đương về giai cấp: họ hành nghề dạy học.  Vào thế kỉ 13, những người dạy học tại Đại học Bologna, lúc đó là trung tâm huấn luyện về luật pháp bên Âu châu, được gọi là Doctor.  Trong khi đó ở Đại học Paris, là trung tâm về văn học nghệ thuật, những người dạy học được gọi là Master.

Sự bình đẳng giữa Master và Doctor bị chấm dứt ở Anh và Mĩ, nơi mà văn bằng Doctor sau này được đánh giá cao hơn văn bằng Master.  Ở Anh, hai trường Đại học Oxford (thành lập vào khoảng 1249) và Cambridge (thành lập vào khoảng 1209) được mô phỏng theo hệ thống tổ chức của Đại học Paris; do đó, các nhà khoa bảng các môn văn hóa nghệ thuật thường được gọi là “Master”, trong khi các đồng nghiệp của họ trong các môn học như triết, thần học, y học, và luật được gọi là “Doctor”.  Ngày nay, các tên bằng cấp như “Master of Arts” và “Doctor of Philosophy” có nguồn gốc từ sự phân chia này.

Tiến sĩ là gì?

Tiến sĩ là học vị cao nhất trong hệ thống giáo dục đại học phương Tây.  Theo mô hình của hệ thống đại học theo phương Tây, có 3 cấp học chính: cử nhân, thạc sĩ (masters), và tiến sĩ.  Vế mặc con số, sự phân bố ba loại bằng cấp đó giống như hình tháp, với tiến sĩ ở vị trí chót vót, cử nhân ở vị trí thấp nhất, và thạc sĩ ở chính giữa.  Chẳng hạn như ở Thái Lan, trong niên học 2007, có 1.77 triệu sinh viên bậc cử nhân, 182 ngàn sinh viên thạc sĩ, và chỉ có 16246 nghiên cứu sinh bậc tiến sĩ.  Nói cách khác, chỉ 0.8% sinh viên đại học theo học tiến sĩ.

Có nhiều lí do tại sao số người theo học tiến sĩ quá ít.  Lí do đơn giản nhất là người ta không có nhu cầu học tiến sĩ.  Cũng có người sau 4 năm theo học cử nhân đã cảm thấy mệt mỏi, và chỉ mong tốt nghiệp để kiếm thu nhập bù lại những năm tháng theo học.  Có người không đủ trình độ hoặc không đáp ứng điều kiện theo học.  Ở những đại học và trung tâm đào tạo nghiêm chỉnh, chỉ có khoảng 1-2% ứng viên xin học tiến sĩ được nhận học (sau khi qua một đợt phỏng vấn).  Điều này cũng không khó hiểu, bởi vì chương trình tiến sĩ là nhằm đào tạo một “lực lượng” khoa học elite cho các trường đại học, một lực lượng khoa học then chốt cho các trung tâm nghiên cứu khoa học và kĩ nghệ.  Có thể nói không ngoa rằng những người tham gia vào chương trình đào tạo tiến sĩ trong ý tưởng là đào tạo một đội ngũ tinh hoa của xã hội.  Đó cũng chính là lí do tại sao người ta đánh giá nền khoa học và trình độ tiên tiến của một quốc gia bằng cách dựa vào số người có học vị tiến sĩ trong dân số.  Ở những nước có nền kinh tế phát triển cao như Mĩ, số người có bằng tiến sĩ khoảng 0.7% dân số.

Tiêu chuẩn cho tiến sĩ

Để có được văn bằng tiến sĩ, ứng viên phải đạt hai điều kiện.  Thứ nhất, ứng viên phải có kiến thức uyên bác và làm chủ kiến thức về một đề tài khoa học.  Thứ hai, ứng viên phải mở rộng hay phát triển thêm tri thức về đề tài đó. Để làm chủ đề tài nghiên cứu, nghiên cứu sinh phải tìm đọc và cố gắng hiểu tất cả những gì đã viết hay công bố về đề tài đó.  Không phải như bậc cử nhân, kiến thức thường có thể tìm thấy trong sách giáo khoa , đối với bậc tiến sĩ kiến thức thường được tìm trong các tập san khoa học.  Để mở rộng kiến thức về một đề tài, nghiên cứu sinh phải làm nghiên cứu khoa học theo sự hướng dẫn của thầy cô.  Chính phần nghiên cứu khoa học này phân biệt giữa tiến sĩ và các chương trình cử nhân hay thạc sĩ.  Học tiến sĩ thực chất là làm nghiên cứu khoa học.  Không có nghiên cứu khoa học thì không thể là tiến sĩ được.

Cũng cần phải nhấn mạnh rằng đề án nghiên cứu cấp tiến sĩ không nhất thiết phải mang tính ứng dụng thực tiễn (như nhiều người ngộ nhận), mà phải thể hiện một đóng góp mới vào tri thức cho chuyên ngành. “Tri thức mới” ở đây bao gồm việc phát hiện mới, khám phá mới, hay cách diễn giải mới cho một vấn đề cũ, hay ứng dụng một phương pháp mới để giải quyết một vấn đề cũ, v.v… Những tri thức như thế có thể không có khả năng ứng dụng trong tương lai gần, nhưng có thể góp phần thúc đẩy chuyên ngành phát triển một mức cao hơn. Xin nhớ rằng khám phá insulin phải đợi đến gần 50 năm sau mới ứng dụng trong lâm sàng.

Học tiến sĩ không chỉ là hoàn tất luận án.  Có rất nhiều người tưởng rằng học tiến sĩ chủ yếu là hoàn tất một luận án, nhưng thực tế thì không phải như thế vì luận án chỉ là một phần của chương trình đào tạo.  Luận án là một báo cáo có hệ thống những phương pháp và kết quả nghiên cứu của nghiên cứu sinh. Do đó, luận án chỉ là một tiêu chuẩn (có thể quan trọng) trong các tiêu chuẩn để được cấp bằng tiến sĩ. Ngoài luận án ra, nghiên cứu sinh phải đáp ứng 6 tiêu chuẩn như sau :

Một luận án khi hoàn tất mà chỉ để trên giá sách của thư viện trường cũng chỉ là một mớ tài liệu ít người biết đến. Vì ít người biết đến và nằm trong thư viện, nên chẳng có bao nhiêu người biết được luận án đó có cái gì mới hay xứng đáng với cấp tiến sĩ hay không. Do đó, nghiên cứu sinh cần phải công bố vài bài báo khoa học trên các tập san khoa học quốc tế trước khi viết luận án. Công bố quốc tế là một hình thức “thử lửa” tốt nhất cho nghiên cứu sinh, bởi vì qua đó mà đồng nghiệp khắp thế giới có thể thẩm định chất lượng của công trình nghiên cứu và luận án của nghiên cứu sinh.

Thật ra, công bố quốc tế là một điều gần như tất yếu trong quá trình học tiến sĩ ở các đại học bên Âu châu, Mĩ châu, và Úc, những nơi mà họ khuyến khích (có nơi gần như bắt buộc) nghiên cứu sinh phải công bố vài bài báo khoa học trước khi viết luận án tiến sĩ. Ở một số nước Bắc Âu, luận án tiến sĩ thực chất là tập hợp một số bài báo khoa học đã công bố trên các tập san quốc tế. Ngày nay, các đại học lớn ở Thái Lan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Phi Luật Tân, v.v… cũng có qui định tương tự.

Một trong những câu hỏi mà nghiên cứu sinh khi mới bước vào học tiến sĩ là cần phải có bao nhiêu bài báo khoa học để có thể bảo vệ luận án tiến sĩ? Câu hỏi này khó trả lời, bởi vì nó còn tùy thuộc vào qui định của trường đại học, của phân khoa, và những qui định này rất khác nhau giữa các trường ngay cả trong cùng một nước. Chẳng hạn như trong các khoa xã hội và kinh tế học, yêu cầu bài báo khoa học không được đặt nặng bằng các khoa khoa học tự nhiên và thực nghiệm. Ở Mĩ người ta không có những qui định “cứng” phải có bao nhiêu bài báo khoa học để viết luận án tiến sĩ, vì nghiên cứu sinh phải học “coursework” một thời gian trước khi bắt tay vào nghiên cứu, còn ở Anh và Úc thì tiến sĩ hoàn toàn làm nghiên cứu chứ không có coursework, nhưng cũng không có qui định trên giấy trắng mực đen bao nhiêu bài báo. Tuy nhiên, có qui ước ngầm theo kiểu “unspoken rule” là một luận án tiến sĩ cần phải có ít nhất là 2 bài báo khoa học, tốt hơn là ít nhất 3 bài báo khoa học, cộng với các bài khác chưa công bố.

Trong một phân tích mới công bố trên Scientometrics, tác giả Hagen phân tích cho thấy tính trung bình, một luận án tiến sĩ ở Viện Karolinska có 4 bài báo khoa học, và con số bài báo dao động từ 3 đến trên 6 bài. Theo phân tích (xem biểu đồ dưới đây), gần 80% luận án có 4 bài báo khoa học; 12% có 5 bài; 5% có trên 5 bài; một phần nhỏ (4%) có 3 bài.

Số lượng bài báo khoa học trong một luận án tiến sĩ

Học vị tiến sĩ là một học vị cao nhất trong hệ thống giáo dục đại học.  Ở các nước phương Tây, xã hội kính trọng những người có học vị tiến sĩ và gọi họ bằng danh xưng “Doctor”.  Để xứng đáng với danh xưng đó, xã hội đòi hỏi người có học vị phải đạt hai điều kiện chung: phải chứng tỏ rằng mình đã quán triệt và làm chủ được lĩnh vực nghiên cứu; và thứ hai là phải phát triển hay cống hiến được một cái gì mới cho kho tàng của tri thức nhân loại.  Cái cốt lõi của học vị tiến sĩ (và cũng là khía cạnh dùng để phân biệt học vị tiến sĩ với các học vị đại học khác) có thể tóm lược bằng hai chữ: nghiên cứu.  Để phát triển hay mở rộng tri thức, thí sinh phải khảo sát, điều tra, và suy ngẫm, chứ không đơn thuần là một kĩ thuật viên về một lĩnh vực chuyên môn nào đó.

Học tiến sĩ để làm gì ?

Mặc dù những cảnh báo trên là hoàn toàn sự thật và có thể xảy ra cho thí sinh, nhưng tôi phải công bằng mà nói rằng cũng có một vài “an ủi” cho thí sinh nào cảm thấy mình có đủ khả năng và đức tính để theo học tiến sĩ.

Thứ nhất, thí sinh có thể tự hào rằng mình đã hoàn tất chương trình học, hoàn tất nghiên cứu, và được trao văn bằng tiến sĩ.  Nếu thí sinh có khả năng và đam mê, sự nghiệp nghiên cứu khoa học có thể đem lại cho thí sinh nhiều phần thưởng vật chất và tinh thần có giá mà các ngành nghề khác không có được.

Thứ hai, trong khi theo học tiến sĩ hay sau khi tốt nghiệp, thí sinh có thể sẽ gặp gỡ và làm việc với những người thông minh nhất trên hành tinh này.  Thí sinh sẽ tiếp cận và tiến dần đến những lí tưởng và ý tưởng không nằm trong tầm tay của mình, và để làm việc đó, thí sinh sẽ cảm thấy tri thức mình trưởng thành thêm.  Thí sinh sẽ giải quyết nhiều vấn đề mình chưa bao giờ gặp trước đó.  Thí sinh sẽ khám phá các khái niệm chưa bao giờ được nghe đến.  Thí sinh sẽ phát hiện những nguyên lí có thể làm thay đổi xã hội và con người.

Thứ ba là lí tưởng sống của người làm nghiên cứu khoa học rất có ý nghĩa.  (Tôi có thể nói lại câu này mà không sợ bị chê là “nói ngoa”.)  Nói về niềm hân hoan trong nghiên cứu, có một “chân lí” mà có lẽ bất cứ nhà khoa học nào cũng đồng ý: trong các hoạt động của con người nghiên cứu khoa học là lẽ sống có ý nghĩa nhất.  Tại sao nhà khoa học phải tiêu ra nhiều giờ trong phòng nghiên cứu, mài mò sách vở, bận tâm với từng con số, quan tâm đến từng biểu đồ, trong khi họ có thể tiêu thì giờ với gia đình để làm cỏ trong vườn, hay tiêu ra thì giờ với bè bạn trong quán cà phê, quán nhậu ?!  Đúng là nhà khoa học cũng có thể có một cuộc sống gia đình như hàng triệu triệu người khác, tức là làm những việc trong gia đình như bao nhiêu người khác trên thế giới này, nhưng cái khác nhau là thay vì làm những việc đó, nhà khoa học có thể làm việc trong một phòng thí nghiệm, trong phòng máy tính, trong thư viện, bên giường bệnh với bệnh nhân, hay thậm chí trong chuồng … chuột, v.v… nơi mà họ có thể khám phá những điều thú vị nhất trên đời mà chưa có người nào biết đến.  Có thể nói nghiên cứu khoa học là một niềm vui tuyệt đối.  Còn gì vui hơn khi khám phá của mình đem lại lợi ích cho hàng triệu người trên thế giới, như khám phá vi khuẩn H. pylori của giáo sư Marshall, người vừa được giải Nobel y học vừa qua.

Mục đích thực và chính của việc học hành là để mở mang trí tuệ, trau dồi kiến thức, rèn luyện nhân cách, và làm người hữu ích cho xã hội.  Bằng cấp không phải dùng để đo những kết quả trên, mà chỉ là những phân chia đẳng cấp khoa bảng rất tương đối.  Bằng cấp, dù là học vị cao nhất như tiến sĩ, chỉ là một bước đầu trong hoạt động khoa học, và tự nó chưa nói đủ về khả năng chuyên môn của nhà khoa học.  Tương tự, một học hàm cao nhất như giáo sư cũng không phản ánh chính xác được mức độ đóng góp vào kho tàng tri thức của nhân loại.  Người trí thức chân chính chỉ nghĩ đến những đóng góp có giá trị nhằm đem lại phúc lợi thực sự cho nhân loại, và không bao giờ phụ thuộc vào học vị, học hàm hay các danh xưng phù phiếm để gây ảnh hưởng trong cộng đồng.

Thursday, April 30, 2020

[PhD life] Tìm ra đường nghiên cứu khoa học

8:56:00 AM
[PhD life] Tìm ra đường nghiên cứu khoa học
Bài viết dưới đây là chia sẻ của GS. Dương Quang Trung, người hiện đang làm nghiên cứu tại đại học Queen Belfast UK. Vì tôi đang trong cuối quá trình làm PhD nên tôi thấy những chia sẻ của GS. Trung giống hầu hết những gì tôi đã trả qua nên tôi note lại đây để mọi người có thể hiểu hơn, mường tượng về con đường vào khoa học sẽ như thế nào. 



1) Bạn đang lan man ở những giai đoạn đầu nghiên cứu? Cái khó cho những bạn đi học MSc/PhD là giai đoạn đầu rất khó tìm hướng đi của mình. Nghe cái gì hay cũng đọc, thấy cái gì cũng dòm. In cả vài nghìn trang tài liệu ở trên bàn, để cho mốc meo, mỗi tài liệu chỉ lướt qua, tô vàng xanh đỏ, nhưng chẳng vào đầu 1 chữ nào. Thực ra đó là giai đoạn khởi động, ai cũng bị. Giai đoạn này có thể dài hay ngắn tùy vào nhiều yếu tố, GS hướng dẫn, khả năng bản thân, LAB mate, và cả may mắn. Một trong những lý do quan trọng nhất trong giai đoạn này làm mình lan man là Kiến thức nền chưa có và công cụ sử dụng chưa có.
2) Cái quan trọng nhất khi làm nghiên cứu không phải là hướng đi hot hay không hot. Quan trọng nhất là bạn phù hợp với hướng đó hay không và bạn nắm vững các công cụ để áp dụng vào hướng nghiên cứu đó. Khối ngành kỹ thuật có thể là Optimisation, AI, Machine Learning, Big Data, Random Process, Control Theory, v...v.., Sử dụng thành thạo các công cụ hỗ trợ khi đọc báo là cách nhanh nhất để hiểu bài báo đó. Khi bạn đọc 1 bài báo, bạn chỉ hiểu rõ khi bạn có tư duy để có thể làm lại (duplicate) được kết quả của bài báo đó. Thông thường trong giai đoạn đầu khi bạn chưa biết viết paper (nghĩa là chưa ra kết quả) việc đọc báo chậm, rất chậm và lan man cũng là vì lý do này. Sau này khi đã viết 1 vài bào báo chuyên ngành rồi, tức là khả năng bạn đã sử dụng thành thạo công cụ của ngành mình rồi thì rõ ràng khi bạn đọc bài báo, những điểm nhấn sẽ đến trong não rất nhanh. Và quan trọng là ban sẽ biết nên đọc bài báo nào (bài nào ko cần đọc), và nhiều khi đọc ở đoạn nào của bài báo (chứ không cần phải đọc hết cả bài như trước đây). Nên sức đọc sẽ hiệu quả hơn hẳn, dễ hiểu hơn hẳn và không lan man như bước 1 ở trên. Cái đó là sau này, còn bây giờ ta vẫn như đang đi lạc trong rừng . Nhưng không có gì hoảng loạn cả. Chỉ cần cố gắng
3) Vậy đến khi nào thì dừng đọc. Đọc là giai đoạn literature review, tìm hiểu tổng quan trong ngành. Trong ngành rộng, sẽ có các ngành hẹp, trong ngành hẹp sẽ có ngành hẹp hơn. Rút gọn lại đến khi bạn tìm thấy hướng mà bạn có thể viết ra paper. Nhưng từ lúc hiểu paper đến viết là 1 khoảng cách khá lớn. Quan trọng là phải duplicate lại được kết quả của bài báo cũ đã làm. Khi bắt tay vào làm lại kết quả, bạn sẽ biết mình hổng kiến thức gì, công cụ gì mình chưa biết, mình cần phải bổ sung cái gì. Đó cũng là giai đoạn mình đọc thêm các textbook, học các phần mêm hỗ trợ, học các phương pháp thí nghiệm. Nhiều khi giai đoạn học text book này song song với giai đoạn đọc tài liệu. Không được đốt cháy giai đoạn này. Đây là giai đoạn xây nhà trên móng. Tôi rất ủng hộ việc học course trước ở giai đoạn MSc, rồi mới đi làm PhD. Thiếu kiến thức nền rất nguy hiểm. Nếu bạn không có thể theo đuổi các course trên trường mà mình cần, thì tự học online, tự đọc sách. Nên nhớ không đốt cháy giai đoạn. Tôi có tổng cộng 4 năm học course ở MSc và PhD trước khi thực sự bước vào làm nghiên cứu thực thụ. Tôi mất khoảng 4 năm đầu cho giai đoạn này. Tổng cộng thời gian từ lúc tôi bắt đầu đi du học ở giai đoạn MSc đến lúc nhận bằng TS là 9 năm (4 năm học course và 5 năm làm research). Sẽ có nhiều course bạn có thể không dùng vào thời điểm này nhưng sau này có khả năng bạn sẽ cần đến nó, lúc đó có thể bạn không nhớ, nhưng bạn biết kiến thức nằm ở chỗ nào, để lục lại mà đọc. Rất quan trọng, kiến thức nền.
4) Công cụ (các phương pháp) là thứ quan trọng nhất để bạn giải quyết ý tưởng. Không có công cụ, thì ý tưởng cũng sẽ nằm trong sọt rác. Công cụ có thể là 1 hướng Toán ứng dụng, có thể là 1 hướng của AI, có thể là phương pháp thí nghiệm hóa học, có thể là 1 phương pháp thí nghiệm vật lý v...v... Không nắm rõ công cụ, chúng ta vẫn có thể nói chuyện như 1 chuyên gia nhưng chúng ta đang ở trên mây. Tôi đã từng biết có 1 số người khi đi họp họ phát biểu rất tốt, nói rất hay, như là 1 học giả. Nhưng họ chưa bao giờ thực sự bắt tay vào làm (nghĩa là "make your hand dirty") nên nhiều điều họ nói không thể áp dụng vào thực tế, cụ thể có thể là dự án, hoặc bài báo. Một cuộc đời làm PhD có thể có 1 công cụ, có thể có 2 và hơn. Ví dụ khi tôi làm PhD, tôi có nắm vững rất tốt những công cụ sau: Random Probability, Random Matrix Theory, Super Analysis, Matlab, Mathematica. Nó giúp tôi chiến đấu 5 năm PhD nhưng sau này đến năm thứ 6 (sau khi tốt nghiệp) thì tôi phải chuyển sang học thêm những thứ khác: Optimisation, Machine Learning, v..v... Tóm lại, nắm vững công cụ là cách tốt nhất để triển khai ý tưởng.
5) Khi bạn làm PhD để ra báo, bạn sẽ bắt đầu từ quy trình đọc để thu hẹp lại Chuyên ngành -> chuyên ngành hẹp -> chuyên ngành rất hẹp. Nghĩa là những bài báo khoa học của bạn chỉ dùng để giải quyết những bài toán rất rất nhỏ. Có thể người ta làm ra kết quả 1. Bạn phát hiện có thể thay đổi bài báo đó, và ra kết quả tốt hơn là 2 thì bạn đã có thể đăng được 1 bài báo tốt, có khi trên top journal. Nhưng nên nhớ, nếu cứ tiếp tục như thế, bạn sẽ không bao giờ tồn tại trong môi trường học thuật. Khi xong PhD chuyển sang giai đoạn post-doc bạn phải học cách chuyển ngược lại chuyên ngành rất hẹp-> chuyên ngành hẹp-> chuyên ngành ->và có khi cả đa ngành. Đó là sự chuẩn bị cho con đường lâu dài. Cho nên kiến thức là vô tận, nghiên cứu nó cũng vậy. Cách đây 7 năm khi sắp xong PhD tôi không bao giờ nghĩ vào thời điểm này mình lại đang ngồi nghiên cứu những lĩnh vực như environment, healthcare, social science, plastic waste, air-quality v...v... Mọi thứ thay đổi, bản thân mình cũng thay đổi. Nếu có cơ hội bạn nên luôn thay đổi mình, đọc thêm được những ngành nghề liên quan, nghe những seminar của những chuyên ngành khác. Nó sẽ rất có ích sau này.
6) Cuối cùng, việc làm PhD và đi làm nghiên cứu không phải là chăm chăm ra báo ISI. Bài báo khoa học chỉ là những điều kiện cần, quan trọng vẫn là chất lượng của những bài báo bạn đã làm. Bài báo là quan trọng, những kiến thức bạn thu lượm được trong những năm tháng đó cũng quan trọng không kém. Nên nhớ thất bại cũng là thành công. Tại sao tôi nói thế, bạn bỏ ra 1 thời gian khá lớn để rồi nhận ra mình đi sai đường., hướng nghiên cứu đó không còn phù hợp với mình nữa, khoảng thời gian mất trắng đó không phải là ít. Có người cũng đã phải chuyển ngành học (hẹp và rất hẹp, kể cả ngành rộng) sau vài năm. Nhưng đó là những bài học xương máu, những kiến thức bạn không dùng nữa chưa chắc đã vô dụng. Có khi lại còn hữu ích sau này. Khoảng thời gian bạn đã bỏ ra đó cũng là thời gian đào tạo bạn biết cách làm việc độc lập, Học hỏi kinh nghiệm từ những thất bại thì cũng là 1 thành công đó bạn.
Điều cuối cùng tôi muốn nói, đường nghiên cứu còn dài lắm. Không ai tự vỗ ngực là mình giỏi trong bất cứ lĩnh vực gì, đặc biệt là nghiên cứu khoa học khi sự học là vô tận, kiến thức là vô tận. Đức tính quan trọng nhất của người làm nghiên cứu là kiên nhẫn, không nản chí và phải khiêm tốn. Biết mình ở đâu, luôn luôn cầu tiến và học hỏi, không tự mãn. Chúc bạn thành công.

Friday, May 17, 2019

[PhD life] Tiến sĩ, hậu tiến sĩ, rồi gì nữa?

8:34:00 AM
[PhD life] Tiến sĩ, hậu tiến sĩ, rồi gì nữa?

Đó là câu hỏi mà nhiều người theo học tiến sĩ thường đặt ra. Câu trả lời thì còn tùy vào hoàn cảnh của mỗi cá nhân. Có thể là có một văn bằng để tiến thân, có thể là vì phúc lợi cộng đồng, có thể là tiến đến một nền "cộng hoà khoa học". Nhưng dù mục tiêu là gì, tôi nghĩ cần phải nhận thức rõ ràng rằng tốt nghiệp tiến sĩ chỉ mới xong giai đoạn đầu của quá trình huấn luyện một nhà khoa học chuyên nghiệp. Tuy nhiên, có vài ngộ nhận về ý nghĩa của văn bằng tiến sĩ và đó là điều tôi muốn bàn trong cái note ngắn này.


Tiến sĩ: xưa và nay
Giá trị văn bằng tiến sĩ không còn như ngày xưa. Ở VN ta thời xưa, tốt nghiệp Trạng Nguyên (tức tương đương tiến sĩ ngày nay) là cả một sự kiện. Sự kiện vinh quang và vinh qui. Văn học Việt Nam vẫn còn lưu truyền câu thơ của Nguyễn Bính tả quan Trạng về làng: "Ngựa anh đi trước, võng nàng theo sau"). Có sách sử mô tả rằng ngày xưa, người tốt nghiệp Trạng Nguyên còn được ăn cơm tối với vua, được ngắm vườn hoa của vua, và có tư cách cưới ... công chúa. Nói chung, thời đó, tốt nghiệp tiến sĩ là một thành tựu to lớn, làm đổi đời không chỉ có cá nhân mà còn cho gia đình. Tốt nghiệp Trạng Nguyên - Tiến Sĩ thời xưa có thể ví như là một cái passport để bước vào ngôi đền học thuật và vương giả.
Gần đây hơn (tức 30-50 năm trước) ở phương Tây, người tốt nghiệp tiến sĩ cũng có một tương lai rộng mở trước mặt, với đa số trở thành các nhà khoa bảng (giảng viên, giáo sư, nhà nghiên cứu) trong các đại học. Dĩ nhiên, một số nhỏ thời đó theo đuổi sự nghiệp ngoài khoa bảng, nhưng nói chung giá trị của văn bằng tiến sĩ thời đó rất ư là cao quí.
Nhưng thời nay thì mọi chuyện đã đổi thay, văn bằng tiến sĩ không còn quí hiếm như xưa. Với trào lưu đại chúng hoá đại học diễn ra khắp nơi, các tiêu chuẩn cho văn bằng tiến sĩ cũng bị hạ thấp. Do đó, có quá nhiều người tốt nghiệp tiến sĩ, nhiều đến nổi thị trường khó có thể đáp ứng. Có nhiều người tốt nghiệp tiến sĩ mà không tìm được việc làm, và đó là một tình trạng đáng buồn.

Mục tiêu của đào tạo tiến sĩ
Mục tiêu chính của đào tạo tiến sĩ là xây dựng và duy trì một 'cộng hoà' nhà khoa học chuyên nghiệp (professional scientists). Tôi dùng 'cộng hoà' theo ý nghĩa khoa bảng, chứ không phải chánh trị. Do đó, học tiến sĩ là để:
• theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu khoa học. Để dấn thân vào sự nghiệp nghiên cứu khoa học, học vị tiến sĩ là một “giấy thông hành” quốc tế, cũng giống như muốn hành nghề kĩ sư thì phải có bằng kĩ sư. Cố nhiên cũng có một số người tham gia nghiên cứu khoa học dù họ không có học vị tiến sĩ, nhưng đây là những trường hợp ngoại lệ.
• theo đuổi sự nghiệp khoa bảng. Học vị tiến sĩ là một “chứng từ” để theo đuổi sự nghiệp khoa bảng (academic career). “Khoa bảng” ở đây được hiểu là giảng dạy đại học và nghiên cứu khoa học. Cố nhiên, ở nhiều đại học phương Tây, vẫn có người có thể trở thành giáo sư dù không có học vị tiến sĩ, nhưng cơ hội tiến thân trong các nấc thang khoa bảng ngày nay cho những cá nhân như thế không mấy cao.
Do đó, nếu thí sinh muốn theo đuổi sự nghiệp quản trị doanh nghiệp, kĩ nghệ và khoa học (như muốn làm giám đốc doanh nghiệp, giám đốc các cơ sở khoa học) hay các chức vụ hành chính, hay các chức vụ mang tính quản lí trong hệ thống chính phủ thì thí sinh không nên theo học chương trình tiến sĩ, mà nên theo học chương trình thạc sĩ quản trị kinh doanh hay quản trị hành chính (MBA – Master of Business Administration).

Những ngộ nhận
Nhưng ở VN ngày nay người ta muốn có chính sách 'tiến sĩ hoá' bộ máy công quyền. Cách đây vài năm, một viên chức của Hà Nội "mong 100% cán bộ Thành ủy ‘quản’ là tiến sĩ”, vì có người cho rằng “Có bằng tiến sĩ mới đột phá tư duy”. Không biết đến nay thì đã có bao nhiêu viên chức thuộc Hà Nội có bằng tiến sĩ, nhưng tôi đoán chắc chưa đạt con số 100%. Nhưng dù con số là bao nhiêu thì đây là một quan điểm sai lệch về văn bằng tiến sĩ.
Nhưng ngoài hiểu sai lệch trên, còn có nhiều cách hiểu sai lầm khác về động cơ theo học tiến sĩ. Theo tôi, có thể tóm lược trong những ngộ nhận phổ biến sau đây:

1) nhiều người hiểu lầm rằng học vị tiến sĩ sẽ tự động đem lại uy danh cho cá nhân. Hầu hết các thí sinh đã đạt được văn bằng tiến sĩ đều cảm thấy tự hào về nỗ lực và kết quả của việc phấn đấu trong học hành nghiên cứu. Tuy nhiên, thí sinh phải hiểu rằng một khi tốt nghiệp tiến sĩ, thí sinh có thể làm việc với nhiều nhà khoa học khác cũng có bằng tiến sĩ. Học vị tiến sĩ mới chỉ là bước đầu vào nghiên cứu khoa học, là một minh chứng rằng người có bằng đó “trưởng thành” trong khoa học, chứ nó (văn bằng tiến sĩ) chẳng đem lại uy danh cho người có học vị nếu người đó không có công trình nghiên cứu nào có giá trị.

2) ý kiến của một cá nhân được nâng cao chỉ vì cá nhân đó có văn bằng tiến sĩ. Nhiều người tin rằng một khi họ có văn bằng tiến sĩ trong tay, công chúng sẽ tự nhiên kính trọng ý kiến của họ. Nhưng niềm tin này chỉ là hoang tưởng. Người có học vị tiến sĩ có thể am hiểu và uyên bác về một lĩnh vực chuyên môn hẹp nào đó, nhưng không phải là chuyên gia của mọi vấn đề khác. Sự kính trọng phải được chứng minh qua hành động và bản lĩnh của người phát biểu, chứ không tự động mà có được qua danh xưng “tiến sĩ”.

3) học vị tiến sĩ là mục tiêu sau cùng trong học hành, nghiên cứu. Học vị tiến sĩ chuẩn bị thí sinh vào sự nghiệp nghiên cứu. Nếu thí sinh chỉ muốn có mảnh giấy để treo trên tường thì không nên theo đuổi học vị tiến sĩ. Sau khi tốt nghiệp tiến sĩ, thí sinh có cơ hội để so sánh thành quả của mình với các nhà khoa học khác. Thí sinh sẽ nhận thức rằng cái được “tính sổ” không phải là danh xưng hay học vị tiến sĩ, mà là nghiên cứu khoa học do chính thí sinh tiến hành và hoàn tất.

4) học tiến sĩ để gây ấn tượng trong gia đình và bạn bè. Người thân trong gia đình và bạn bè thí sinh có lẽ rất hồ hởi và tự hào khi thí sinh vào học chương trình tiến sĩ, bởi vì họ nghĩ thí sinh sẽ trở thành một ông nghè, một “doctor” trong tương lai. Nhưng văn bằng tiến sĩ chỉ là giấy thông hành cho nghiên cứu, chứ không phải để lấy le với người thân, bạn bè hay với xã hội. Không phải lúc nào cũng đòi người khác phải gọi mình là ông / bà “tiến sĩ”.

5) học vị tiến sĩ là cái cớ để thử trí thông minh. Nhiều người nghĩ rằng học tiến sĩ là một thách thức và họ muốn chơi trò thách thức xem tri thức của mình cỡ nào. Rất tiếc, quan điểm này sai, bởi vì chương trình huấn luyện tiến sĩ không phải để thí sinh cân não hay để thử khả năng tri thức. Ngoại trừ thí sinh dành trọn thì giờ và dấn thân vào học hành để đỗ đạt, thí sinh sẽ không thể nào có được văn bằng tiến sĩ chỉ vì mình “thông minh”. Như nói trên, thí sinh phải làm việc nhiều giờ trong ngày, phải có khi thức đêm trong phòng thí nghiệm hay thư viện, phải chuẩn bị đương đầu với những thất bại, phải chuẩn bị động não để học cái mới và suy nghĩ cái mới.

6) học tiến sĩ để kiếm nhiều tiền. Thí sinh tốt nghiệp tiến sĩ thực ra không có lương bổng cao hơn các thí sinh với bằng cử nhân hay người công nhân bình thường trong hãng xưởng. Xin nhắc lại: học tiến sĩ là để trở thành nhà nghiên cứu, nhà khoa học, và cái quan tâm đầu tiên của nhà khoa học là sự thật, chứ không phải sự giàu có về tiền bạc. Tất nhiên, có nhiều khi sự thật và khám phá cũng đem lại một nguồn tài chính lớn cho nhà nghiên cứu. Nhưng nói chung, đó không phải là mục tiêu để theo học tiến sĩ.

7) học tiến sĩ là một lựa chọn tốt nhất. Cống hiến cho xã hội có nhiều cách và cuộc đời có nhiều lựa chọn, và học vị tiến sĩ chỉ là một trong số hàng trăm lựa chọn đó. Có lẽ nhiều người sẽ ngạc nhiên khi đọc phát biểu này, nhưng đó là một thực tế. Thật vậy, đối với nhiều thí sinh, học vị tiến sĩ có thể là một lựa chọn sai lầm! Thí sinh phải tự hỏi mình muốn làm người lãnh đạo trong những người có văn bằng thạc sĩ, hay là làm một nhà nghiên cứu tầm thường. Thí sinh phải biết và quyết định mình muốn gì, và nghề nghiệp nào sẽ kích khích mình nhiều nhất hay đem lại hạnh phúc cho mình nhất.

Sau tiến sĩ là gì?
Như đề cập trên, học tiến sĩ là để có một giấy thông hành trở thành một thành viên của nền cộng hoà khoa học quốc gia hay quốc tế. Nhưng để trở thành thành viên của nền cộng hoà đó, người tốt nghiệp tiến sĩ thường đi theo một con đường truyền thống. Con đường đó là tiến sĩ --> hậu tiến sĩ --> giảng viên --> giáo sư. Theo một thống kê, chỉ có 10% hậu tiến sĩ là ở lại với nghiên cứu khoa học (dù 80% họ hi vọng được ở lại đại học). Nói cách khác, có đến 90% hậu tiến sĩ bỏ sự nghiệp khoa học. Một phân tích khác của Royal Society (Anh) cho thấy hành trình từ khi tốt nghiệp tiến sĩ đến một nhà khoa học thực thụ cũng rất gian nan (1):
• Hơn phân nửa (53%) tiến sĩ ở Anh tìm sự nghiệp ngoài khoa học và công nghệ;
• 17% làm nghiên cứu ở các công ti kĩ nghệ;
• 30% tìm được việc làm ở giai đoạn "early career" (tức là hậu tiến sĩ, giảng viên, assistant professor) trong các đại học;
• Chỉ có 3,5% trong số tốt nghiệp tiến sĩ tìm được việc làm nghiên cứu khoa học trong các đại học. Chỉ có 0,45% (tức ~5 người trên 1000) sau này trở thành giáo sư thực thụ.
• Còn số người thành giáo sư thực thụ và có labo độc lập thì chỉ 0.1%.
Tuy nhiên, ngày nay, có nhiều tiến sĩ không theo con đường truyền thống đó. Theo một nghiên cứu công bố trên PLoS Biology (2) thì chỉ có 54% hậu tiến sĩ người Mĩ theo đuổi sự nghiệp khoa bảng (academia), phần còn lại là kĩ nghệ (25%), chính phủ (8%), học thêm (4%), v.v. Còn hậu tiến sĩ người nước ngoài thì 71% theo đuổi academia, 12% là kĩ nghệ, chỉ có khoảng 1% là chính phủ. Như vậy, con đường sau tiến sĩ và sau hậu tiến sĩ không chỉ là khoa bảng, mà các công ti kĩ nghệ là một nguồn quan trọng.
Tóm lại, quá trình từ tốt nghiệp tiến sĩ đến nhà khoa học độc lập là một hành trình rất gian nan và lâu năm. Chỉ có 30% tiến sĩ có vị trí hậu tiến sĩ. Chỉ có 10% hậu tiến sĩ còn tồn tại trong hệ thống nghiên cứu khoa học. Và, chỉ có một số ít hậu tiến sĩ sau này trở thành giáo sư; và trong số này chỉ có một số rất ít đứng đầu labo nghiên cứu. Thời gian từ tiến sĩ đến xong hậu tiến sĩ là từ 3-6 năm, nhưng cũng có thể lâu hơn. Điều này chỉ để nói rằng đào tạo được một nhà khoa học thực thụ cần thời gian và đầu tư nhiều công sức và tài nguyên.
Chủ trương tiến sĩ hóa cán bộ hành chính là một cách biến học vị tiến sĩ thành một loại giấy thông hành, một chứng từ, một tiêu chuẩn để tiến thân trong sự nghiệp quản trị hành chính. Qui định phải là tiến sĩ mới được đề bạt lên một chức vụ nào đó trong hệ thống quản trị hành chính là rất lệch với mục tiêu của đào tạo tiến sĩ. Chính vì qui định này mà không ít trường hợp, người ta đề bạt người vào vị trí nào đó, rồi tìm cách hợp thức hóa cho người đó bằng cách cấp bằng tiến sĩ! Việc hợp thức hóa đó bất chấp tiêu chuẩn khoa bảng và ý nghĩa của học vị tiến sĩ thể hiện một sự phá hoại các chuẩn mực giáo dục đại học.
===


Theo GS. Nguyen Tuan